Đoàn công tác của Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý thăm làm việc, nghiên cứu, khảo sát thực tế tại Nhật Bản
06:34 26/12/2023
Từ ngày 16/11/2023 đến ngày 22/11/2023, Đoàn công tác của Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp do TS. Nguyễn Văn Cương - Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý làm trưởng đoàn đã tiến hành thăm, làm việc, nghiên cứu, khảo sát thực tế tại Nhật Bản.
Qua các buổi làm việc, Đoàn đã trao đổi với các đối tác Nhật Bản về cách nhìn nhận, xử lý các vấn đề pháp lý của một số đơn vị nghiên cứu, giảng dạy pháp luật, hành nghề luật tại Nhật Bản về những thách thức đặt ra đối với việc xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0, liên quan đến chuyển đổi số (Digital Transformation), ứng dụng trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI), điện toán đám mây (Cloud Computing), xây dựng và quản trị đô thị thông minh (Smart City)... Tìm hiểu về tư duy cải cách pháp luật của Nhật Bản trong lĩnh vực cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh kinh tế số thời gian gần đây.
Kết quả trao đổi cho thấy, ngay từ những năm 1980 khi máy đánh chữ đã dần trở nên nhỏ gọn và phổ biến, được sử dụng rộng rãi trong công việc (như: máy đánh chữ Fujitsu Oasys; máy đánh chữ Nec Bungo, máy tính cá nhân như: Nec PC9801; Apple Macintosh Plus), sự ra đời của công cụ CD-ROM dùng để tra cứu thông tin pháp luật, thì Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ số trong soạn thảo văn bản pháp luật và phổ biến, giáo dục pháp luật.
Đến những năm 1990, nhờ sự phát triển của các phần mềm, việc kết nối máy tính với máy in, máy tính với máy tính khác được thực hiện trên thực tế. Giá thành máy tính cũng như các phần mềm dần rẻ hơn, vì vậy, các cơ quan, tổ chức, cũng như người dân sử dụng ngày càng nhiều hơn.
Những năm 2000, nhờ có sự xuất hiện của ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line) việc kết nối internet ngày càng phổ biến. Các dịch vụ tra cứu thông tin án lệ trên internet dần xuất hiện, ví dụ như: trang D1-Law.com, thư viện án lệ, thư viện luật TKC,…; ngoài ra, còn có thêm các công cụ tra cứu án lệ trên internet của các nước Âu Mỹ như LexisNexic, Westlaw cũng được du nhập vào Nhật Bản. Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản cũng đã đưa vào triển khai các hệ thống cung cấp dữ liệu về văn bản pháp luật (cung cấp được 8037 các văn bản pháp luật trên các Website). Công báo cũng bắt đầu được biên soạn trên internet. Cùng với đó, Nhật Bản đã tiến hành cải cách tư pháp, năm 2002 Luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, tiến hành thực hiện việc nộp hồ sơ trực tuyến, áp dụng tại toà án khu vực… Từ năm 2010 đến nay, Nhật Bản đã áp dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện thủ tục cải cách tư pháp. 3 “e” gồm e-Filing, e-Court, e-Case Management được áp dụng: E-Filing là việc các cáo trạng hay các chứng cứ bằng văn bản trong hồ sơ vụ án có thể được nộp trực tuyến và được quản lý bằng dữ liệu. E-Court là việc thực hiện các thủ tục thông qua hình thức họp trực tuyến (Web Conferencing,…). E-Case Management là quản lý thông tin vụ án, hồ sơ vụ án bằng cơ sở dữ liệu, cho phép xem trực tuyến. 3E được thực hiện theo từng giai đoạn. Vào năm 2017, Nội các đã ra văn bản khuyến khích sử dụng công nghệ nhiều hơn trong ngành Tư pháp.
Trong việc sử dụng công nghệ trong tra cứu văn bản pháp luật: Cục chuyển đổi số đang vận hành trang tra cứu văn bản pháp luật là e-Laws và e-Gov giúp cho người dân cũng như các doanh nghiệp có thể dễ dàng hơn trong công tác tra cứu văn bản pháp luật, các trang này có cả chức năng hiển thị chỉ tiếng Nhật, chỉ tiếng Anh hoặc cả tiếng Nhật và tiếng Anh.
- Về việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Tòa án: tháng 6/2022 Luật Tố tụng dân sự Nhật Bản được sửa đổi với quy định dành 04 năm để thử nghiệm hệ thống toà án điện tử và nộp hồ sơ điện tử, để đến năm 2026 sẽ hoàn thành việc xây dựng tòa án điện tử. Ở Nhật Bản, ngoài những vụ án được cơ quan truyền thông thông tin thì đối với các vụ án thông thường khác, mọi người sẽ được tiếp cận thông tin vụ việc qua việc truy cập dữ liệu của toà án với thông tin đã được mã hoá tự động bằng trí tuệ nhân tạo (AI). Mỗi năm Nhật Bản có hơn 20.000 bản án công khai trên Internet, ước tính đến năm 2026 tất cả các bản án có thể hoàn toàn được công bố trên Internet. Việc chuyển đổi bản án thành dữ liệu sẽ do các trung tâm thông tin thực hiện, nhận thông tin từ toà án. Trung tâm thông tin này do các nhà xuất bản, những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dữ liệu án lệ điều hành. Các nhà xuất bản hay doanh nghiệp kinh doanh sẽ thu phí người dùng để duy trì hoạt động kinh doanh.
- Về việc ứng dụng công nghệ tại các công ty, văn phòng luật sư: nhìn chung, việc ứng dụng các công nghệ đã giúp các công ty, văn phòng luật sư tăng hiệu quả và năng suất làm việc. Các công cụ kỹ thuật số giúp tự động hoá các tác vụ thủ công và giúp việc truy cập thông tin dễ dàng hơn. Việc ứng dụng các công nghệ số cũng giúp các văn phòng luật phát triển các mô hình kinh doanh mới, cung cấp được các dịch vụ mới cho khách hàng mà từ trước tới nay không có. Có một nhóm dịch vụ số được cung cấp như: Google workplace (bao gồm Gmail, lịch Google, các cuộc họp online Google meet và thành lập web riêng dành cho văn phòng là Google sites); hệ thống trao đổi trong công việc – Chatwork; phần mềm tra soát hợp đồng (sử dụng trí tuệ nhân tạo - AI); dịch vụ điện thoại dựa trên điện toán đám mây; hệ thống quản lý thông tin vụ việc trên điện toán đám mây; dịch vụ quản lý nhân sự; dịch vụ hỗ trợ kế toán; dịch vụ tiếp tân tự động… Tuy nhiên, vẫn còn nhiều luật sư duy trì cách làm việc truyền thống. Việc luật sư sử dụng gmail, chia sẻ tài liệu... mới đạt 60%. Khác với các văn phòng luật, các luật sư làm pháp chế trong doanh nghiệp sử dụng email và công cụ IT nhiều hơn. Có tới 80% luật sư đang sử dụng mạng Internet để tra cứu án lệ, đặc biệt rất nhiều người sử dụng ChatGPT để soạn thảo hợp đồng đơn giản.
Về phương diện quản lý, mặc dù AI đã và đang được sử dụng khá phổ biến, tuy nhiên, hiện nay chưa có quy tắc quy định liên quan đến việc sử dụng AI trong việc hành nghề của các công ty, văn phòng luật. Hiện nay, một Uỷ ban nghiên cứu của Liên đoàn luật sư Nhật Bản đang nghiên cứu về vấn đề này, có thể trong tương lai Liên đoàn sẽ ban hành Bộ quy tắc về sử dụng AI trong hành nghề luật.
- Về các khía cạnh pháp lý của tài sản mã hóa: Nhật Bản là một trong các quốc gia thừa nhận sự tồn tại của tài sản mã hoá từ rất sớm, các nhà làm luật tại nước này đã nhanh chóng thiết lập các quy định điều chỉnh, thậm chí luật hoá nhằm đặt các quan hệ pháp luật xoay quanh tài sản mã hoá dưới sự quản lý, giám sát của nhà nước. Nhật Bản có Luật Dịch vụ thanh toán (Payment Services Act - PSA) được ban hành vào cuối năm 2016 (được sửa đổi vào năm 2019) đã đưa ra khái niệm “tài sản mã hoá” (crypto asset) thay thế cho thuật ngữ “tiền ảo” (virtual currency) để tránh những nhận định tiền mã hoá hoạt động/giữ trạng thái tương tự như tiền pháp định. Điển hình của tài sản mã hóa là “Bitcoin”. Tại Nhật Bản, Bitcoin chưa được chính thức định danh là tài sản, nhưng được coi là thứ “có giá trị về tài sản”. Để kinh doanh các dịch vụ liên quan đến Bitcoin, các doanh nghiệp phải đăng ký với Chính phủ. Qua thủ tục đăng kí xin phép, Chính phủ có thể theo dõi được các doanh nghiệp và quản lý thị trường Bitcoin.
- Về thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực công: tại Nhật Bản, để thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực công, Nhật Bản đã lập riêng cơ quan về chuyển đổi số quốc gia là Cục Chuyển đổi số (từ năm 2021) với các cán bộ được lấy từ các bộ ngành và các cán bộ có hiểu biết về công nghệ thông tin. Trong quá trình hoạt động, Cục cũng có sự phối hợp với các chuyên gia công nghệ bên ngoài. Do mới thành lập được 02 năm, có ý kiến đến từ Cục Chuyển đổi số Nhật Bản cho rằng, quá trình chuyển đổi số của Nhật Bản trong khu vực công có phần chậm hơn so với một số quốc gia khác.
- Về xây dựng đô thị thông minh trong bối cảnh xã hội 5.0: theo thông tin đến từ cuộc trao đổi với đại diện Văn phòng Nội các Nhật Bản, Nhật Bản đang thực hiện kế hoạch đến năm 2030 sẽ xây dựng được siêu thành phố - “Super City”. Kế hoạch này là một trong những bước đi để thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội tương lai (Xã hội 5.0), có sự tham gia của người dân, lấy người dân làm trung tâm. Mục tiêu chính của “Xã hội 5.0” là giải quyết các vấn đề xã hội bằng cách kết nối các hệ thống sử dụng công nghệ số làm nền tảng hợp nhất không gian thực và không gian số. Đây là xã hội cung cấp hàng hóa và dịch vụ theo nhu cầu của từng cá nhân, hướng đến việc có thể tạo ra một xã hội để mọi người có thể sống thoải mái ở bất cứ nơi nào. Với các nội dung chính là: một là, thực hiện cung cấp dịch vụ công nghệ tiên tiến trong nhiều lĩnh vực khác nhau; hai là, liên kết các cơ sở dữ liệu trong nhiều lĩnh vực khác nhau; ba là, là cải cách các chế độ, quy định liên quan.
Năm 2020, Luật Đặc khu chiến lược quốc gia năm 2013 được sửa đổi, bổ sung các quy định về siêu thành phố, đặt mục tiêu xây dựng siêu thành phố vào trong Chiến lược quốc gia. Để thi hành, tháng 12/2020, Nhật Bản tập hợp ý tưởng đề xuất xây dựng Đề án về siêu thành phố. Tháng 4/2021, có 31 thành phố đã đưa ra những đề xuất khác nhau, thông qua việc kiểm tra đánh giá từ các nhà chuyên môn trên các phương diện khác nhau. Tháng 4/2022, Hội đồng cố vấn của Đặc khu Chiến lược Quốc gia đã tư vấn để Chính phủ Nhật Bản đã chỉ định thành phố Osaka (tỉnh Osaka) và thành phố Tsukuba (tỉnh Ibaraki) là “siêu thành phố” - “Super city”. Những siêu thành phố này sẽ là nơi sẽ tiến hành thử nghiệm các công nghệ tiên tiến trên toàn thành phố. Ở một mặt nào đó, khái niệm siêu thành phố cũng khá gần với “cơ chế thử nghiệm có kiểm soát” (Sandbox,) vì chính quyền Nhật Bản có thể xây dựng các quy định hay kế hoạch để thực hiện định hướng phát triển của siêu thành phố, nếu siêu thành phố này triển khai tốt thì sẽ tiến hành triển khai khắp toàn quốc.
- Về pháp luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh kinh tế số: ở Nhật Bản, Luật Chống độc quyền được ban hành từ năm 1947, nhằm ngăn chặn độc quyền tư nhân và tình trạng độc quyền, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các vụ sáp nhập hạn chế cạnh tranh. Mặc dù Luật Chống độc quyền đã được ban hành khá lâu, nhưng cho tới gần đây, chính sách kinh tế của Nhật Bản mới chuyển sang dựa nhiều hơn vào cạnh tranh. Thái độ của Nhật Bản đối với chính sách cạnh tranh đang thay đổi. Ý tưởng về cạnh tranh trở thành trung tâm của các kế hoạch cải cách mới nhất của Nhật Bản về quản lý, điều hành kinh tế. Hiện nay, Luật Chống độc quyền của Nhật Bản đã có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển kinh tế với các thay đổi chủ yếu về mặt thủ tục. Ví dụ như: về quyết định của cơ quan hành chính về hành vi vi phạm, trước kia Ủy ban thương mại công bằng (Fair Trade Commission - FTC) sẽ ra nhiều quyết định phạt đối với các lỗi của doanh nghiệp, còn hiện nay Ủy ban này chủ yếu ra các văn bản có tính chất cảnh báo tới doanh nghiệp nếu doanh nghiệp chấm dứt hành vi vi phạm. Như vậy, cách điều hành hiện nay chủ yếu hướng đến việc tuân thủ và hợp tác tuân thủ hơn là việc tìm lỗi sai để phạt như trước kia. Trường hợp doanh nghiệp cho rằng mình không vi phạm các lỗi do FTC chỉ ra thì có thể khởi kiện lên Tòa án. Ngoài ra, gần đây, FTC còn ban hành các hướng dẫn thúc đẩy các doanh nghiệp chuyển sang nền kinh tế số và kinh tế xanh.











